Bảng đo thị lực và cách đánh giá thị lực

Thị lực là khả năng nhận biết rõ 2 điểm ở gần nhau. Và 2 điểm đó được nhìn dưới một góc được gọi là thị giác. Thị giác sẽ phản ánh khả năng nhìn của mắt, phản ánh sức khỏe của mắt. Vì vậy mà việc đo thị lực là điều cần thiết. Vậy cách đo thị lực ra sao? Bảng đo thị lực là gì?

Phương pháp thiết lập bảng đo thị lực

Quy định để vẽ bảng thị lực 10/10 như sau: Mắt người có thị lực 10/10, đứng xa 5m, nhìn một chữ cái dưới 1 góc 5 phút. Khoảng cách giữa 2 nét và các nét chữ dưới góc 1 phút phải nhận biết được chữ đó. Với thị lực 10/10 chữa cái có kích thước: cỡ chữ 7,5mm; nét chữ 1,5mm.

Bảng đo thị lực
Bảng đo thị lực

Một số bảng đo thị lực thông dụng như: bảng Armaignac với chữ E, bảng Landolt với vòng hở chữ C, Bảng thị lực chữ cái của Snellen với các chữ cái: L  F  D  O  I  E, bảng thị lực hình với các loại đồ vật hay con vật dùng cho trẻ em hoặc người không biết chữ.

Phương pháp đo thị lực

Sẽ có 2 phương pháp đo thị lực là đo thị lực gần và đo thị lực xa. Cụ thể:

Đo thị lực xa

Đối với đo thị lực xa cần đáp ứng các nguyên tắc sau.

Nguyên tắc

  • Người bệnh cần đứng cách xa bảng thị lực 5m hoặc 6m tuỳ bảng thị lực.
  • Bảng thị lực phải được chiếu sáng với cường độ trung bình là 100 lux.
  • Đo thị lực từng mắt một. Khi đi mắt này thì bịt mắt kia lại và ngược lại.
  • Nếu người bệnh thay đổi môi trường từ nơi có ánh sáng sáng vào tối thì cần cho người bệnh nghỉ 15 – 20 phút. Thời gian nghỉ sẽ đảm bảo võng mạc thích nghi tốt.

Phương pháp đo

Sử dụng một trong những cách sau:

Dùng bảng đo thị lực

Đây là cách khá đơn giản. Cho bệnh nhân cách xa bảng 5m nếu bệnh nhân không đọc được hàng chữ lớn nhất trên bảng thị lực, cho bệnh nhân tiến gần đến bảng thị lực để đọc các hàng chữ trên bảng thị lực. Kết quả sẽ là hàng chữ nhỏ nhất mà bệnh nhân có thể đọc được, cách ghi là MP: 2/10-2m.

Cách đo thị lực dùng bảng đo thị lực
Cách đo thị lực dùng bảng đo thị lực

Hoặc có thể cho người bệnh đếm số ngón tay thầy thuốc đưa ra trước mắt bệnh nhân. Kết quả thị lực là khoảng cách xa nhất mà người bệnh còn đếm đúng số ngón tay đưa ra.

Chẳng hạn: MP: ĐNT 3m, MT: ĐNT 1m.

Quy đổi như sau: ĐNT xa 5m tương đương thị lực 1/10 hay 5/50. Như vậy ĐNT xa 1m tương đương thị lực 1/50, ĐNT 2m tương đương thị lực 2/50, ĐNT 0,5m = 1/100.

Thị lực bóng bàn tay

Trường hợp bệnh nhân không đến đúng số ngón tay bác sĩ đưa ra thì sẽ tiến hành cách này. Bác sĩ sẽ đưa tay khua trước mắt, bệnh nhân cần nhận biết vật đang chuyển động trước mắt. Kết quả thị lực là khoảng cách xa nhất mà mắt nhìn thấy vật cử động.

Thị lực sáng tối

Chiếu nguồn sáng vào mắt người bệnh, bệnh nhân nhận biết có ánh sáng, tắt ánh sáng đi bệnh nhân không thấy gì – đây là cảm giác. Tuy nhiên nếu mắt không có cảm giác này thì bệnh nhân bị mù tuyệt đối.

Thị lực hướng sáng

Sẽ thực hiện bằng cách dùng đèn pin chiếu vào mắt bệnh nhân lần lượt tại vị trí chính giữa, trên, dưới, trái, phải. Bệnh nhân cần chỉ hướng của ánh sáng tới.

Lưu ý đối với bảng thị lực e cỡ chữ 28 thì kết quả thị lực nhìn xa sẽ là phân số. tử số là khoảng cách thử tính bằng mét và mẫu số là cỡ chữ thử. Nếu người bệnh đọc được 3 trong 4 chữ cỡ chữ 18 khoảng cách 6m thì thị lực là 6/18. Còn đọc được 3 trong 4 chữ cỡ chữ 60 khoảng cách 6m thì thị lực là 6/60….Ghi kết quả thị lực từng mắt và thị lực 2 mắt phối hợp.

Ngoài ra thị lực còn phụ thuộc vào ánh sáng của nền, độ sáng chung của phòng, đường kính đồng tử,…

Đo thị lực gần

Ngoài cách đo thị lực xa ta còn có thể đo thị lực gần. Cần sử dụng một bảng thị lực gần để đo. Người bệnh cầm bảng đo ở khoảng cách đọc sách hay nhìn gần bình thường. Khoảng cách sẽ thường là 33-40m. Bảng đo thị lực gần thường dùng thang điểm “N”, N5 là chữ in rất nhỏ, N8 xấp xỉ kích thước chữ in báo. Bảng thị lực nhìn gần dùng thang Jaeger. N5 có kích thước bằng J13 và N8 bằng J16.

Cách đo như sau:

  • Cho người bệnh ngồi thoải mái trên ghế.
  • Chiếu ánh sáng từ phía sau qua vai.
  • Bệnh nhân cầm bảng thị lực gần và đọc. Kết quả thị lực gần sẽ là hàng chữ nhỏ nhất mà bệnh nhân đọc thoải mái và ta sẽ đo khoảng cách từ mắt đến bảng thị lực nhìn gần.

Cách ghi như sau: bệnh nhân không kính đọc được cỡ chữ N12 thì ghi N12 không kính. Còn với kính nhìn gần đọc được N16 thì ghi N16 với kính nhìn gần.

Được đóng lại.